Mẹo khắc phục nhanh khi kết nối Internet bị ‘đứt’

Khi đang duyệt web mà thấy thông báo “The page cannot be displayed” (trang không hiển thị được) thì có thể kết nối mạng của đã hỏng. Những cách sau đây sẽ giúp phục hồi lại.

1. Khởi động lại kết nối Cách đơn giản nhất là bấm chuột phải vào biểu tượng Local Area Connection trên khay hệ thống (hoặc vào bằng cách bấm chuột phải ở icon My Network Places > chọn Properties) > Disable. Sau đó, bấm Enable lại. Nếu cách này không được, người dùng có thể thử các biện pháp liên quan đến địa chỉ IP:

2. Lấy lại địa chỉ IP Nếu thuê bao DSL hay cáp, bạn có thể đang dùng địa chỉ IP động – có nghĩa là địa chỉ kết nối PC với Internet sẽ thay đổi mỗi lần đăng nhập. Địa chỉ này được chỉ định nhờ giao thức DHCP. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, DHPC có thể không cấp địa chỉ mới khi máy khởi động và bạn sẽ “kẹt” với địa chỉ IP cũ và không kết nối được Internet. Dù hệ thống kết nối trực tiếp qua modem hay router, bước đầu tiên bạn phải làm là lấy một địa chỉ IP được chỉ định bằng cách nhấn chuột phải vào biểu tượng kết nối mạng trên khay hệ thống, chọn Repair. Windows sẽ tự động loại bỏ địa chỉ cũ và yêu cầu địa chỉ mới từ router hoặc nhà cung cấp dịch vụ (phụ thuộc vào cách PC được kết nối). Phần lớn các trường hợp, cách này khá hiệu quả. Nhưng nếu không khắc phục được, bạn phải giải quyết bằng tay. Nhấn vào menu Start > Run > gõ dòng cmd. (Trong Windows Vista, chỉ cần gõ cmd vào hộp thoại Start Search). Ở dấu nhắc đợi lệnh trên màn hình DOS, gõ ipconfig để xem địa chỉ IP hiện tại, subnet mask và gateway mặc định cho tất cả các adapter. Các adapter khác có thể bao gồm card Wi-Fi và Bluetooth, mặc dù chúng sẽ xuất hiện trong trạng thái không kết nối. Bản thân câu lệnh này chỉ hiển thị thông tin chứ không làm được gì. Muốn lấy một địa chỉ IP khác, hãy gõ thêm tham số /release và /renew sau chữ ipconfig và một dấu cách. ipconfig /release sẽ điều khiển máy chủ DHCP xóa địa chỉ IP hiện có của tất cả các adapter, dù là mạng Ethernet hay không dây. Sau đó, lệnh ipconfig /renew nếu thành công thì một địa chỉ IP mới, một subnet mask mới và một gateway mặc định mới sẽ xuất hiện.

3. Kiểm tra cache DNS Khi bạn vẫn kết nối được Internet nhưng không thể vào một trang nào đó, có thể trục trặc ở cache máy khách DNS gây ra điều này. DNS đã dịch tên văn bản tên miền Internet thành số IP. Ví dụ Amazon.com trở thành 207.171.171.132. Cache lưu một hồ sơ về các trang bạn đã ghé qua để lần sau, khi vào tiếp, sẽ tải nhanh hơn. Đôi khi, một phần của file bị hỏng và khiến PC không thể tìm lại nơi lưu trữ. Xóa cache chính là cách giải quyết vấn đề này. Gõ dòng lệnh ipconfig /displaydns để xem danh sách các tranh đã ghé qua. Nếu không có tên trang web mà bạn cần vào thì gõ tiếp ipconfig /flushdns để xóa danh sách này. Sau đó, gõ lại địa chỉ web trên trình duyệt.

4. Dùng thêm các tham số khác của ipconfig Ipconfig có nhiều tham số khác dành cho việc xử lý rắc rối ở cấp độ cao hơn, và nếu bạn may mắn thì sẽ không bao giờ cần đến chúng. Gõ ipconfig /? để nghiên cứu thêm.

5. Ping địa chỉ IP Cũng trong cửa sổ DOS, lệnh ping làm vai trò xác định kết nối mạng của máy tính. Việc ping này sẽ gửi gói dữ liệu tới host, có thể ví von giống như tàu ngầm truyền sóng âm tới một vật thể dưới nước để xác định khoảng cách, lệnh ping ước lượng thời gian đi hai chiều của gói tin, đưa nó về và hiển thị bất kỳ tình trạng mất gói tin nào. Trước hết, nhìn lại địa chỉ IP của máy tính (ví dụ 127.0.0.1) và gõ ping 127.0.0.1 ở dấu nhắc đợi lệnh, đợi vài giây chờ phản hồi. Windows sẽ cố gắng ping đến card mạng của hệ thống xem thiết bị có hoạt động không. Nếu bạn nhận lại được gói tin nghĩa là adapter mạng hoạt động ổn. Giờ ping đến một địa chỉ ngoài bằng cách gõ vào đó, ví dụ ping google.com. Nếu có gói tin trả lại, kết nối mạng của bạn đã được thiết lập. Tuy nhiên, nếu không nhận được gói tin này, bạn hãy thử ping địa chỉ IP của gateway mặc định. Nếu cách này cũng không được, phần cứng (modem, router, dây nối) của bạn có vấn đề và phải kiểm tra lại.

6. Kiểm tra phần cứng Nếu máy tính nối trực tiếp với modem DSL, hãy kiểm tra các dây nối được gắn chặt với các điểm nối, đèn modem phải sáng. Kiểm tra lại cổng Ethernet trên PC xem đèn có sáng không. Nếu đèn tắt trong khi cáp được nối vào máy tính (bật điện) thì có nghĩa là phải thay cổng Ethernet. Nếu đèn sáng mà vẫn không có kết nối, hãy tắt các thiết bị mạng của bạn và đợi một lát rồi bật lại. Cần làm theo các trình tự sau đây.

– Tắt PC, rút dây điện của modem. Nếu đang dùng router thì tháo dây điện củarouter. – Sau đó khởi động lại modem. Sau khi nó đã khởi động xong và có đèn báo kết nối, hãy bật router và đợi router khởi động lại. – Khi hoàn thành việc này, bật PC, mở trình duyệt để kiểm tra kết nối. Nếu tất cả các thao tác trên đều thất bại thì đã đến lúc bạn phải gọi hỗ trợ từ nhà cung cấp dịch vụ. Hãy cho họ biết bạn đã làm những thao tác trên để họ không phải làm lại, mất thời gian. Có thể nguyên nhân là một lỗi nào đó trong hệ thống hay trên đường dây kéo từ ngoài vào nhà bạn.

(Scoure PC World)

Advertisements

Tìm hiểu Domain, DNS, Hosting, Whois, Sub domain

Tìm hiểu Domain, DNS, Hosting, Whois, Sub domain

Khi bạn mua host và trong phần cấu hình người ta nói là host này có thể host cho 5 domains. Có nghĩa là nếu bạn có 1 domain là http://www.tenban.com/ và bạn đăng ký ở chỗ đó, nhưng bạn của bạn có một domain là http://www.tenbancuaban.com/ bạn cũng có thể cho anh bạn này “ở chung” nhà với một host của bạn. Nói dễ hiểu hơn là một host đó bạn có thể chia ra cho 5 domain cùng host với nhau.
Đây là một tính năng khá quan trọng và cũng rất ít host có tính năng này. Thường thì một host chỉ có thể được một domain.

Sub domain là gì
Sub domain gọi theo tiếng Việt là tên miền thứ cấp và thường thì nó chỉ được dùng bởi một doanh nghiệp hoặc công ty nào đó cho nội dung của trang web đó. Nó chỉ đơn tuần là một thư mục nằm dưới thư mục gốc, nhưng để truy cập nó một địa chỉ URL đặc biệt được sử dụng
Ví dụ tên miền http://laquang.info là dạng địa chỉ URL bình thường không có sub domain. Nhưng http://emuasam.laquang.info là địa chỉ URL với sub domain là: emuasam.
Ở đây- .info là tên miền cấp một- laquang là tên miền cấp hai- emuasam là tên miền cấp 3.

Bạn có thể sở hữu domain trong bao lâu?
Thông thường khi bạn đăng ký mua domain, thì tối thiểu bạn phải mua là trong vòng một năm. Tuy nhiên bạn có thể mua nó từ 1 năm cho đến 10 năm hoặc hơn.

Bao giờ bạn phải gia hạn domain?
Cái này tuỳ thuộc vào thời gian bạn đăng ký khi mua domain đó. Nếu thời gian bạn mua là một năm thì công ty bán domain cho bạn sẽ gửi thư cho bạn và nhắc bạn là domain sắp hết bạn và bạn phải gia hạn cho nó.

Điều gì xảy ra khi domain của bạn hết hạn sử dụng
Khi domain của bạn hết hạn sử dụng bạn có thể gia hạn cho nó trong vòng một tháng. Nếu bạn không gia hạn, thì trong thời gian này nó sẽ được chuyển sang trạng thái bán hoá giá. Nó sẽ nằm trong trạng thái này khoảng 15 đến 30 ngày trước khi nó được chuyển sang trạng thái Available và được mua với giá như bình thường. Mua một domain trong trạng thái bán hoá giá có thể khá đắt và có cái có thể lên tới $200.

Whois là gì
Whois là một trang web giúp bạn tìm thông tin của người chủ sở hữu domain. Bằng cách vào trang web www. Whois.net bạn có thể kiểm tra thông tin chi tiết của một domain.
Ví dụ bạn vào www. Whois.net và ở ô trên cùng bạn gõ laquang.info và nhấn vào ô Go.
Ở cửa sổ thứ hai sẽ cho bạn thấy thông tin chi tiết của domain này bao gồm tên người đăng ký, người chủ sở hữu, địa chỉ và DNS.
Một trang web nữa tôi cũng hay sử dụng là http://www.checkdomain.com/

DNS là gì
DNS là chữ viết tắ của Domain Name Server nó có tác dụng “phiên dịch” chữ thành số. Ví dụ khi bạn vào địa chị chữ là http://laquang.info thì máy tính của bạn nó chẳng hiểu laquang.info là cái mốc gì, mà nó làm việc theo địa chỉ IP. Do vậy chú DNS sẽ phiên dịch cái chữ laquang.info thành một dãy số IP đại loại là 203.190.165.154.
Nhưng cái bạn cần biết ở đây là khi bạn chuyển host đến một domain khác, bạn phải đổi lại địa chỉ DNS. Ví dụ host của Yahoo khi bạn mua người ta cho bạn địa chỉ DNS của host là: NS1.YAHOO.COM và NS2.YAHOO.COM

Các kỹ năng Marketing trực tuyến

Quảng cáo sản phẩm và dịch vụ trên mạng được xem là một phương thức marketing hướng đối tượng thích hợp. Nó có khuynh hướng kích thích sự quan tâm của người mua hàng tới sản phẩm trên trang web của bạn. Chính vì thế, quảng cáo trên mạng có thể có hiệu quả hơn nhiều so với quảng cáo đại trà trên ti vi, báo chí hoặc các phương tiện thư từ khác.

1. Giới thiệu khách hàng đến với trang web của bạn

· Sử dụng các công cụ tìm kiếm đa chức năng.
· Cung cấp cho khách hàng các địa chỉ website mới của bạn, cho phép họ truy cập vào trang web của bạn một cách thường xuyên.
· Công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng về website của mình
· Thiết lập các đường dẫn tới các website tuơng thích với website của bạn, chẳng hạn những website về cùng một thị trường định hướng giống như bạn và không cạnh tranh với website của bạn .
· Viết các bài báo, bài bình luận, những trang web mà ngành của bạn thường hay quan tâm .
· In địa chỉ web, E-mail trên các đồ văn phòng phẩm và các cardvisit của công ty.
· Quảng cáo trang web trên các phương tiện thông tin ở địa phương.
· In địa chỉ trang web trong cuốn những trang vàng địa chỉ Internet.
· Thông báo cho những người đại diện bán hàng về website mới.
· Ðưa ra các mức giảm giá cho những người mua hàng trực tuyến.
· Gửi các bưu ảnh hài hước về trang web của mình.
Như những nguyên tắc trên đã chỉ ra, bạn nên quảng cáo website của mình thông qua các hình thức quảng cáo truyền thống và thông qua hình thức quảng cáo sử dụng các kết nối tương hỗ. Nếu khách hàng quan tâm đến nhưng thông tin của bạn, họ sẽ đánh dấu địa chỉ và truy cập vào lần sau.

2. Những nhân tố giúp cho việc bán các sản phẩm, dịch vụ có hiệu quả trên mạng.

· Sử dụng những hình thức đặc biệt để mô tả sản phẩm và dịch vụ. Nếu có thể mô tả sản phẩm và dịch vụ của mình bằng các hình thức đặc biệt, thì nên áp dụng hình thức đó trên mạng bởi vì tìm kiếm trên mạng dễ dàng hơn nhiều nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện tìm kiếm đặc biệt. Bạn cũng có thể quảng cáo cho sản phẩm và dịch vụ bằng sự kết hợp của nhiều hình thức khác nhau mà khách hàng có thể sẽ áp dụng khi tìm kiếm các loại sản phẩm của mình với điều kiện là những hình thức đó sẽ xuất hiện thường trực trên các trang web mà bạn yêu cầu những phương tiện tìm kiếm đó liệt kê lên.

· Sử dụng chính sách định giá cạnh tranh. Nơi nào trên Internet hỗ trợ khách hàng so sánh giá của những mặt hàng cùng loại thì những mặt hàng có giá thấp nhất sẽ bán chạy nhất. Ðồng thời đối với hầu hết các sản phẩm, những mức giá trực tuyến có thể sẽ phải thấp hơn giá trên các cửa hàng nhằm tạo nên một sự ưu đãi để tạo sự tin tưởng của khách hàng đối với các nhà bán lẻ trên mạng, một phần do thiếu đi sự gặp gỡ giữa các cá nhân trong các giao dịch, và để bù lại việc khách hàng không thể mang hàng về cho mình.

· Yếu tố hữu hình: Khách hàng vẫn muốn cầm nắm, xem xét, nếm, thử hoặc nói chuyện với một ai đó trước khi mua hàng. Người bán nên cung cấp các sản phẩm của mình cho các cửa hàng bán lẻ hoặc dự trữ các sản phẩm đó ở những nơi mà khách hàng có thể đến để cận mục sở thị trước khi quay lại mạng để tiến hành mua bán.

· Sự đồng nhất của các mặt hàng. Các mặt hàng sản xuất hàng loạt thường dễ bán hơn so với các mặt hàng thủ công hoặc sản xuất theo phương pháp truyền thống. Những mặt hàng sản xuất hàng loạt thường có sự nhất quán hơn về các đặc điểm của mình, có chi phí sản xuất dễ tính hơn, và được nhiều người biết hơn.

· Những yêu cầu gián tiếp. Khách hàng sẽ có khuynh hướng mua các mặt hàng chưa có nhu cầu hiện tại trên mạng hơn là các mặt hàng để sử dụng ngay. Những nhà sản xuất có khả năng lập các kế hoạch sản xuất định trước, các kế hoạch xếp hàng và giao hàng sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc sử dụng Internet để xúc tiến bán hàng.

· Sự hiểu biết của khách hàng về sản phẩm. Người ta cho rằng thương mại trực tuyến giữa các doanh nghiệp (B2B) sẽ tăng nhanh hơn thương mại trực tuyến giữa doanh nghiệp và khách hàng (B2C) (Trừ trường hợp đối với các công ty lớn như Amadon, Auto Bytel , CD Now And Dell). Lý do là không giống như phần lớn các khách hàng, các doanh nghiệp không lạ gì những đặc điểm của mặt hàng mà họ cần và vì thế cảm thấy thoả mái hơn trong việc đặt hàng trên mạng.

· Các mặt hàng được mua bán thường xuyên. Những mặt hàng được tiêu chuẩn hoá được mua bán thường xuyên (đồ gia dụng, quần áo trẻ em, đồ văn phòng phẩmv.v…) thường quen thuộc với khách hàng và vì thế dễ dàng đặt hàng trên mạng hơn. Những giao dịch này sẽ tiết kiệm thời gian và tránh cho họ thoát khỏi sự nhàm chán khi mua bán.

3. Những dịch vụ có thể triển khai được trên mạng.

Những dịch vụ sau đây là những dịch vụ có thể triển khai thành công trên mạng.

· Kế toán
· Quảng cáo
· Giáo dục đào tạo mang tính thương mại
· Các phần mềm và dịch vụ máy tính
· Môi giới hải quan
· Các dịch vụ tài chính, y tế, chăm sóc sức khoẻ từ xa
· Bảo hiểm
· Nghiên cứu thị trường.
· Tìm kiếm lao động
· Thông tin và truyền thông
· Các dịch vụ lữ hành
· Dịch thuật
· Thiết kế và bảo trì trang web
· Tư vấn quản lý
· Giáo dục
· Dịch vụ in ấn và đồ hoạ
· Các dịch vụ đấu giá
· Các dịch vụ viết thuê

Chỉ cần đảo qua một số trang web tìm kiếm chủ yếu như Yahoo (www.yahoo.com) hoặc là Google (www.google.com) có thể thống kê ra một loạt các dịch vụ thuộc mọi thể loại khác nhau đang được cung cấp trên mạng.

Sự thành công của một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng cũng phụ thuộc vào các yếu tố thông thường; chẳng hạn mức độ sản phẩm đó đáp ứng nhu cầu thị trường như thế nào. Tuy nhiên, các nhà cung cấp dịch vụ lại có duyên với Internet bởi vì các sản phẩm của họ có khuynh hướng được xử lý bằng kỹ thuật số. Phần lớn các nhà cung cấp dịch vụ hoạt động thu thập, lưu trữ, điều khiển và truyền bá thông tin .

Các thông tin được số hoá có thể dễ dàng thu thập và truyền tải ở mức chi phí thấp hơn thông qua Internet so với các phương tiện khác.Các dịch vụ viễn thông cũng thu hút được rất nhiều khách hàng thông qua Internet. Tiếng nói thông qua các nhà cung cấp cổng Internet sử dụng công nghệ IP để truyền tiếng nói điện thoại thông qua các kênh dữ liệu là một lĩnh vực đang tăng trưởng mạnh nhất khắp nơi trên thế giới.

4. Những sản phẩm mà khách hàng có thể tìm mua trên mạng .

Nghiên cứu của Forester Research 1998 đã chia thị trường bán lẻ trực tuyến thành 3 loại mua bán: Hàng hoá tiện dụng, hàng hoá và dịch vụ nghiên cứu bổ sung và hàng hoá thông thường. Những hàng hoá tiện dụng được mua bán như là sách, âm nhạc, quần áo và hoa . Người ta dự tính là sự đa dạng của hàng hoá tăng lên, sự xuất hiện của dịch vụ gửi hàng và sự xúc tiến bán lẻ rộng rãi sẽ làm tăng sự thông dụng của việc buôn bán hàng hoá này trên mạng. Những hàng hoá bổ sung được mua bán phổ biến hơn, chẳng hạn như hàng tạp hoá, hàng cá nhân, những mặt hàng này tuy có giá thành trung bình nhưng lại là thiết yếu do trở ngại từ việc thiếu một hệ thống phân phối khả dĩ và sự bắt nhịp chậm chạp về Thương mại điện tử của khách hàng. Cho nên người ta đánh giá thị trường này chủ yếu phát triển trong một số lĩnh vực nhất định như hàng đặc dụng, hàng dược phẩm. Chi phí của hàng hoá và dịch vụ liên quan đến nghiên cứu cao hơn nhiều so với hai chủng loại hàng hoá trên và là những mua bán được sắp đặt trước theo khuynh hướng thông tin; Loại này bao gồm vé máy bay, máy tính , ô tô. Việc cung cấp các nguồn thông tin trực tuyến và doanh số của loại này sẽ có xu hướng tăng lên đáng kể.

Những sản phẩm mà khách hàng có thể mua qua mạng .

· Các sản phẩm máy tính.
· Sách
· Ðồ điện tử
· Các tour du lịch
· Các tạp chí thường kỳ v.v…

Người ra dự tính rằng các lĩnh vực tăng trưởng chính trong Thương mại điện tử sẽ là truyền thông toàn cầu và các ngành công nghiệp giải trí, du lịch (bao gồm khách sạn và hàng không), các dịch vụ chuyên nghiệp và tài chính, bảo hiểm và bán lẻ. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng những nhân tố thành công của các sản phẩm nhất định bao gồm các yếu tố: thương hiệu mạnh, sản phẩm đặc trưng và chào giá cạnh tranh.

Cần lưu ý rằng chưa có một nghiên cứu hoàn chỉnh nào về khía cạnh tâm lý của khách hàng trên mạng để xác định tại sao một số mảng khách hàng hoặc doanh nghiệp lại mua sản phẩm và dịch vụ này trong khi số khác thì không. Vào tháng 7/1998 trường Ðại học tổng hợp Wayne ở thành phố Chicagô thuộc tiểu bang Michigant đã tiến hành khảo sát 113 công ty, khoảng 87% số đó cho biết rằng họ không mua hàng hoá và dịch vụ trong 6 tháng trước đó. Có vẻ như rằng sự e ngại của khách hàng, ở một mức độ nhỏ hơn là của doanh nghiệp để tìm kiếm và mua hàng hoá và dịch vụ qua mạng đã vượt ra ngoài những lo ngại về vấn đề an ninh, tài chính của các giao dịch. Một nghiên cứu giới hạn đã được tiến hành để tìm ra những nhân tố này. Một câu hỏi khá thú vị là mức độ của việc thay đổi thói quen mua hàng của khách hàng và doanh nghiệp. Có lẽ các doanh nghiệp sẽ dễ dàng thay đổi hơn để cắt giảm chi phí, cải thiện thời gian giao hàng, liên lạc với nhà cung cấp, và đơn giản chỉ là tăng hiêu quả của việc đặt hàng, gửi hàng và giao hàng . Hơn nữa có lẽ hình thức mua bán giữa các doanh nghiệp B2B tăng lên bởi vì nó có đặc điểm khác với những thói quen mua hàng cá nhân truyền thống. Ðiều quan trọng là phải đặt ra câu hỏi có phải do đặc trưng của người mua hàng muốn trực tiếp đi dạo qua các gian hàng, các cửa hiệu, các trung tâm thương mại, các cửa hàng bách hoá hay là họ muốn mua hàng qua mạng để tiết kiệm thời gian cho những hoạt động khác như thể thao, giải trí,v.v…

Theo VNEmart

Bài Viết Đầu Tiên Trên WordPress

Có thể trong thời gian không xa,toàn bộ bài viết trên HiepKhachHanh’s blog sẽ chuyển hết sang WordPress.Đây là bài viết đầu tiên . Ngày 24/3/2009